Về học tập và nghiên cứu kinh tế học tại Pháp

Về học tập và nghiên cứu kinh tế học tại Pháp (Download PDF)

Phạm Ngọc Sáng[1]

Bài viết này nhằm chia sẻ một vài thông tin và kinh nghiệm về học tập và nghiên cứu kinh tế học tại Pháp.[2] Hi vọng những thông tin này hữu ích đối với các bạn đang có ý định theo đuổi ngành kinh tế học, đặc biệt tại Pháp.

  1. Học Master và làm PhD

Hệ thống đại học của Pháp khá phức tạp và đặc biệt, so với ở Mỹ. Ngoài University ra, Pháp còn có các Grandes Ecoles (sau khi tốt nghiệp cấp 3, học sinh phải học dự bị khoảng 2 năm sau đó trải qua 1 kỳ thi tuyển khá khó để có thể vào Grandes Ecoles ; nếu không đỗ, có thể chuyển sang học năm thứ 3 tại các University).

Để được đăng ký vào các chương trình PhD ở Pháp (gọi là Ecole doctorale), thì phải có bằng Master hoặc mức tương đương. Sinh viên có thể đăng ký vào học ở các chương trình Master về Economics. Các trường có uy tín cao như Paris School of Economics, Toulouse School of Economics thì xét tuyển hồ sơ khá kỹ. Trong khá nhiều chương trình, đã có một số môn được giảng dạy bằng tiếng anh (có 1 số chương trình hoàn toàn được dạy bằng tiếng anh). Hầu hết các chương trình Master về kinh tế ở Pháp là miễn phí. Nhiều chương trình Master có sự kết hợp (về mặt giảng viên và cả sinh viên) giữa University và Grandes Ecoles.

Sau khi hoàn thành chương trình Master và tìm được người hướng dẫn, sinh viên sẽ bắt đầu làm luận án (thèse). Hàng năm, các chương trình đào tạo tiến sỹ ở Pháp đều có 1 số học bổng (allocation de recherche) cho sinh viên muốn làm luận án. Nếu được học bổng này, sinh viên sẽ ký 1 hợp đồng làm việc có thời hạn 36 tháng với trường (vị trí của sinh viên gọi là doctorant contractuel trong tiếng pháp) và được hưởng lương hàng tháng khoảng 1350 euros sau thuế (có thể là hơn 1700 euros nếu phải đi dạy bài tập cho sinh viên), và được hưởng các loại bảo hiểm do nhà trường đóng. Với thu nhập này, nghiên cứu sinh có 1 mức sống thoải mái; ngoại trừ ở Paris tiền nhà rất đắt đỏ. Để được những học bổng và vị trí này, nói chung là khó : thứ nhất là sinh viên phải đạt kết quả thật tốt khi học Master, và thứ 2 là có người hướng dẫn hỗ trợ (đương nhiên người hướng dẫn càng có ảnh hưởng lớn thì cơ hội có được học bổng càng cao). Ví dụ như ở Trường Paris 1, có hơn 10 chương trình Master liên quan đến kinh tế, nhưng chỉ có chưa đầy 20 vị trí PhD như thế này.

Ở Mỹ và 1 số nước khác, thì không bắt buộc có bằng Master nhưng người học cũng phải trải qua quãng thời gian (thường là 2 năm) học những môn nền tảng và đạt kết quả tốt thì mới được tiếp tục. Đầu vào các chương trình PhD này thì khá mở, sinh viên có thể là những người tốt nghiệp đại học ngành kinh tế, toán, vật lý, triết, … Chi tiết xem ở trên trang web của Hội Kinh tế học Mỹ  https://www.aeaweb.org/resources/students

Khi làm PhD

Làm luận án là bước đầu tiên trong nghề nghiệp nghiên cứu. Nghiên cứu sinh có ít nhất 3 năm để làm luận án. Một số đặc biệt (rất ít) hoàn thành trước 3 năm. Một số không nhiều hoàn thành luận án trong vòng 3 năm. Nhưng nói chung là 4 hoặc 5 năm, đặc biệt là 1 số nhánh nghiên cứu thực nghiệm và cần dùng nhiều dữ liệu.

Trong quá trình làm luận án tại Pháp, người quan trọng nhất đối với sinh viên là người hướng dẫn (tiếng pháp là directeur de thèse). Đây là người sẽ quyết định hầu hết những vấn đề thủ tục và giấy tờ liên quan đến nghiên cứu sinh.

Công việc chính của NCS là học làm nghiên cứu và viết bài nghiên cứu. Về mặt học thuật, sẽ là tốt nhất nếu nghiên cứu sinh được làm cùng với người hướng dẫn về đúng lĩnh vực của người hướng dẫn. Nhưng mọi việc không phải lúc nào cũng được tốt đẹp như mong muốn. Có nhiều lý do : (1) người hướng dẫn không quan tâm nhiều đến học trò (vì ít thời gian, vì kiểu của họ như vậy, …), (2) nghiên cứu sinh muốn làm 1 thứ mà không phải lĩnh vực sâu của người hướng dẫn, (3) người hướng dẫn nhận nghiên cứu sinh để làm 1 mảng mới đối với cả người hướng dẫn, dẫn đến người hướng dẫn không có chủ chuyên môn và công việc không tiến triển tốt.

Rất ít người hướng dẫn mà làm cùng với học trò theo kiểu cùng phân tích, cùng chứng minh, cùng tìm dữ liệu. Nếu người hướng dẫn chịu khó đọc những gì NCS viết và cho ý kiến chỉ bảo thì cũng đã là khá tốt rồi.

Viết bài nghiên cứu luôn luôn là một công việc khó khăn. Nó đòi hỏi sự tập trung, nghiêm túc và tỷ mỷ trong tất cả các công đoạn. Điều quan trọng nhất vẫn là thái độ và sự quyết tâm của NCS. NCS phải tích cực làm việc (ví dụ 7h/ngày ; cá nhân mình chưa thấy ai kiếm được việc mà làm việc ít hơn 8h/ngày), tự học, cố gắng trao đổi với người hướng dẫn, và cả với những giáo sư khác ở trường, kể cả các NCS khác. Cố gắng đi nghe seminar để biết được đồng nghiệp đang làm gì và cũng là để mở rộng tầm hiểu biết. Nếu không đi nghe seminar thì chẳng khác nào tự giam mình trong 1 góc nhỏ, không biết đến những chân trời khác.

Về bảo vệ luận án

Thời điểm bảo vệ luận án là 1 dấu mốc quan trọng và là điểm khởi đầu trong sự nghiệp khoa học, điều này đúng với cả người Việt Nam và Pháp. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tìm việc. Nếu chất lượng luận án đã tốt rồi (đã có bài được đăng ở tạp chí tốt) và/hoặc đã tìm được việc trước khi bảo vệ, thì buổi bảo vệ chỉ mang tính biểu tượng nhiều hơn là đánh giá chất lượng. Tuy nhiên, lúc nào cũng phải chuẩn bị thật tốt cho buổi bảo vệ.

Ngày trước, các trường đại học của Pháp xếp hạng luận án (từ thấp đến cao): « honorable », « très honorable » ou « très honorable avec les félicitations du jury ». Luận án hạng honorable thì rất khó tìm được việc học thuật. Nhưng từ năm 2016, không còn vấn đề xếp hạng nữa (một số trường thực hiện sớm hơn mốc này), mà chỉ có 2 loại là đạt và không đạt. Tuy nhiên, những luận án xuất sắc thì được hội đồng đề nghị trao tặng giải thưởng luận án. Nếu có thể có giải thưởng thì là một điều vui, và là 1 điểm tốt cho quá trình tìm việc sau này.

Một vài bài viết liên quan đến viết và đăng bài nghiên cứu

  1. Tìm việc – the job market

Tìm việc học thuật trong các trung tâm nghiên cứu và trường đại học ngày càng khó khăn và cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Ở Pháp cũng vậy. NCS nên tìm việc trước khi tốt nghiệp (trường là trước 1 năm).

Về mặt học thuật (acedemic), tiến sỹ mới ra trường có thể ứng tuyển vào các vị trí giảng viên (Maitre de conférences ở các trường công lập ; tương ứng với Assistant Professor) hoặc nghiên cứu viên (ở các trung tâm nghiên cứu lớn như CNRS, INRA, … ), hoặc tìm việc Assistant Professor (AP) ở các Business School (BS). Đây là các vị trí ổn định, hợp đồng không thời hạn (có 1 số BS ký hợp đồng AP có thời hạn). Tất cả các loại vị trí này, mọi người đều phải chuẩn bị hồ sơ thật kỹ lưỡng vì sự cạnh tranh là rất lớn. Kể cả các công việc hợp đồng có thời hạn như Postdoc, thì cũng phải chuẩn bị hồ sơ thật kỹ. Nói chung là gửi hồ sơ khắp nơi.

Maitre de conférences (MCF)

Đây là ngạnh công chức nhà nước (fonctionaire) nhưng không bị giới hạn bởi quốc tịch; nhiệm vụ là giảng dạy và nghiên cứu. Muốn có quyền dự thi MCF thì hồ sơ của ứng viên phải được 1 hội đồng của bộ đại học phê duyệt (được Qualification). Đây cũng không phải việc quá khó khăn nhưng không quá dễ. Điều kiện cần là ứng viên phải có bằng PhD. Sau đó, điều kiện quan trọng nhất là chất lượng nghiên cứu, trong đó có 2 chỉ dấu quan trọng là (1) các bài báo được đăng và (2) biên bản bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh, bao gồm cả reports chi tiết của những người đánh giá luận án (Referee). Lưu ý là ứng viên được biết tên của người trực tiếp đọc và đánh giá hồ sơ khoa học của ứng viên. Tỷ lệ trượt là trên dưới 50% (lưu ý là những người gửi hồ sơ thì tức là họ đã nghĩ rằng hồ sơ của họ có khả năng được duyệt). Ví dụ, năm 2016, có 628 hồ sơ gửi, và có 366 hồ sơ được duyệt.[3]

Sau khi được Qualification rồi, ứng viên sẽ gửi hồ sơ đến từng trường ĐH có vị trí MCF năm đó. Việc thi tuyển lúc này mới chính thức bắt đầu. Kỳ thi tuyển này thường diễn ra vào khoảng từ cuối thang 3 đến cuối tháng 5 hàng năm, bắt đầu từ lúc gửi hồ sơ, gọi phỏng vấn, và kết quả.

Mỗi một vị trí MCF có những đặc điểm riêng, tùy thuộc vào lĩnh vực đang cần tuyển của trường đó. Hàng năm, có khoảng 40 vị trí MCF về ngành kinh tế cho toàn bộ các trường ĐH của Pháp. Sự cạnh tranh là khá khốc liệt.[4] Có rất nhiều ứng viên (có thể lên tới 100) cho 1 vị trí MCF. Quen biết và sự chỉ dẫn của người hướng dẫn cũng là một lợi thế không nhỏ. Tuy nhiên, hai tiêu chí quan trọng nhất vẫn là khả năng nghiên cứu và khả năng giảng dạy.

 Thi tuyển vào CNRS

Đây cũng là ngạch công chức nhà nước và cũng không bị giới hạn quốc tịch. Nhiệm vụ là nghiên cứu (có thể đi dạy nhưng không bắt buộc).  Kỳ thi tuyển này diễn ra trước kỳ thi tuyển MCF. Bắt đầu nhận hồ sơ từ đầu tháng 1 hàng năm.  Cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3 sẽ gọi phỏng vấn các ứng viên. Các bậc nghiên cứu của CNRS từ thấp đến cao là CR2 (charché de recherche (Junior Researcher), classe 2), CR1, DR2 (directeurde recherche, classe 2), DR1 (directeur de recherche (Senior Researcher), classe 1), DRCE (directeur de recherche, classe exceptionnelle).

Khi thi tuyển vào vị trí Junior Researcher của CNRS, yêu cầu về mặt nghiên cứu là cao hơn so với kỳ thi tuyển MCF. Số lượng tuyển vào hàng năm trên toàn nước Pháp là rất ít (khoảng vài người cho mỗi bậc nghiên cứu; ví dụ, năm 2018, chỉ tuyển 4 Junior Researcher và 4 Senior Researcher).

Xem thêm ở link sau : http://www.dgdr.cnrs.fr/drhchercheurs/concoursch/default-en.htm

Công việc ở Business School

Các Business School (BS) tại Pháp cũng tuyển những người có bằng PhD về kinh tế, vì môn kinh tế cũng là 1 môn mà các sinh viên ở BS phải học. Trước đây, chỉ có 1 số ít BS ở Pháp quan tâm đến nghiên cứu, nhưng gần đây, các BS đều quan tâm đến nghiên cứu và tìm kiếm người nghiên cứu tốt (tiêu chí là có bài báo đăng ở tạp chí tốt). Một nguyên nhân khác đến từ sự cạnh tranh khốc liệt của các BS thông qua các bảng xếp hạng, nên các BS rất muốn tìm người nghiên cứu tốt. Đây là công việc ở trường tư, hợp đồng làm việc thường là hợp đồng không thời hạn. Hướng nghiên cứu thì hoàn toàn tự do.

Làm việc ở BS thì bị áp lực (bắt buộc) về chuyện đăng bài ở các tạp chí (tuy nhiên, luật lao động ở Pháp rất bảo vệ người lao động, nên hầu như không có chuyện đuổi việc; nếu không đăng bài nhiều thì họ yêu cầu đi dạy nhiều hơn và làm một số việc khác). Trong khi đó các vị trí MCF ở trường công thì không bị áp lực bắt buộc này. Còn những người làm việc ở CNRS, hầu hết trong số họ là những người rất ham mê nghiên cứu, nên việc gây áp lực nghiên cứu với họ không có nhiều ý nghĩa.

Một vài hướng dẫn và trang web tìm việc

Tìm việc ở Mỹ

Hầu như tất cả các thông tin cần thiết đều có thể tìm thấy trên trang của hội kinh tế gia Mỹ. https://www.aeaweb.org/resources/students/grad-prep/job-market

Với những người sắp và mới tốt nghiệp thì phải có bài nghiên cứu tốt, thường được thể hiện bằng job market paper (JMP) của người viết. JMP có thể chưa được đăng nhưng bài đó phải chứng tỏ được chất lượng nghiên cứu của người viết.

Nói tóm lại, thời nay muốn tìm được việc tốt, ngoại trừ những lý do đặc biệt, thì phải có khả năng nghiên cứu tốt (có thể viết để đăng bài trên những tạp chí tốt nhất của ngành nghiên cứu hẹp của ứng viên).

  1. Tạp chí chuyên ngành về kinh tế học

Có nhiều tạp chí kinh tế và cũng có nhiều bảng xếp hạng các tạp chí kinh tế.  Sau đây là 1 số bảng xếp hạng (dựa trên các tiêu chí khác nhau)

https://ideas.repec.org/top/top.journals.all.html

http://www.scimagojr.com/journalrank.php?area=2000

Các bảng xếp hạng tuy là không đồng nhất, nhưng nói chung những tạp chí tốt  đều xếp trong top 250.  Ở Pháp, có 1 bảng xếp hạng khá uy tín (tất nhiên có 1 số điểm tranh cãi) các tạp chí kinh tế của CNRS (Trung tâm quốc gia nghiên cứu Khoa học) https://sites.google.com/site/section37cnrs/Home/revues37

Tuy nhiên, một số trường Đại học lớn trên thế giới họ có bảng xếp hạng riêng (thường là họ chỉ chọn các tạp chí tốt nhất), để xét tiêu chuẩn nâng bậc cho giảng viên của họ.

Nói chung thì làm nghề nghiên cứu ai cũng muốn có bài đăng tạp chí hàng đầu. Nếu không có bài ở tạp chí hàng đầu của 1 nhánh nào đó (xem bảng xếp hạng của CNRS) thì khó có được sự nể trọng về mặt khoa học của đồng nghiệp quốc tế. Nếu có bài được đăng của Top 5 (gồm 5 tạp chí American Economic Review, Quartely Journal of Economics, Journal of Political Economy, Econometrica, Review of Economic Studies) thì nói chung được mọi người rất nể.  Tất nhiên, có những bài ở tạp chí hàng đầu cũng không thực sự xuất sắc, và có những bài ở tạp chí bình thường nhưng xuất sắc.

  1. Dữ liệu và các thông tin khác

Có khá nhiều nguồn dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy. Trang web của Hội Kinh tế gia Mỹ có giới thiệu về các hệ thống data: https://www.aeaweb.org/resources/data.

Và có cả các hướng dẫn khác (từ chuyện học hành đến kiếm việc, rồi thông tin về thu nhập tương ứng với bằng cấp ra sao) cho sinh viên muốn theo học ngành kinh tế nói chung, không nhất thiết phải là PhD. https://www.aeaweb.org/resources/students

  1. Khoa kinh tế và Trung tâm nghiên cứu kinh tế

Danh mục trên trang Ideas.repec.org: https://ideas.repec.org/top/top.econdept.html

Bảng xếp hạng QS: https://www.topuniversities.com/university-rankings/university-subject-rankings/2017/economics-econometrics

Xem thêm trên trang web của Hội Kinh tế Mỹ: https://www.aeaweb.org/resources/students/grad-prep/program-rankings

 

[1]Email: pns.pham@gmail.com, webpage : https://phamns.wordpress.com/

[2] Kinh tế học (economics) không phải là thương mại. Kinh tế học cũng không phải chỉ là chuyện kiếm tiền. Kiểu nói « làm kinh tế » mà ở Việt Nam thường dùng được hiểu là làm business, là làm ăn, buôn bán, hoặc sản xuất, chứ không phải làm nghiên cứu kinh tế học.

[3] Xem link: http://media.enseignementsup-recherche.gouv.fr/file/statistiques/53/3/Note_qualif_2016_795533.pdf

[4] Xem link: http://www.cpcnu.fr/documents/36459/370237/Role%20du%20CNU%20dans%20le%20recrutement%20des%20EC.pdf

 

Advertisements

Business, finance (source: MEDevEcon)

Link: https://sites.google.com/site/medevecon/development-economics/devecondata

Entrepreneurship, SMEs, Privatisation and Business Environment

On his websiteThorsten Beck at Tilburg University provides access to data on small and medium enterprises (SME) share of employment in firms with less than 250 employees in manufacturing.

The Global Entrepreneurship Monitor (GEM) research program is an annual assessment of the national level of entrepreneurial activity. Data is collected for ‘activity’, ‘aspirations’, and ‘attitudes and perceptions’ (multiple variables under each rubric). Started as a partnership between London Business School and Babson College, it was initiated in 1999 with 10 countries, expanded to 21 in the year 2000, with 29 countries in 2001 and 37 countries in 2002. GEM 2009 is set to conduct research in 56 countries. GEM data for 1999 – 2006 is currently in the public domain. Full GEM datasets are made available to the public three years after the end of an annual data collection cycle. As such, GEM 2007 data will be made available to the public in January 2011. The data is in SPSS format.

The World Bank World Business Environment Survey (WBES 2000) was administered to enterprises in 80 countries in late 1999 and early 2000, using a standard core enterprise questionnaire methodology. This comprehensive survey of over 10,000 firms covers enterprise responses to multiple questions on the investment climate and business environment as shaped by domestic economic policy; governance; regulatory, infrastructural and financial impediments, as well as assessments of public service quality. There is no access to the raw data from this website, so you will have to go through the variable and sample selection process and then ask for the data in spreadsheet format.

The World Bank Doing Business project ‘provides objective measures of business regulations and their enforcement across 181 economies and selected cities at the subnational and regional level.’ The raw data for these surveys (run from 2004 onwards but with varying coverage for individual countries) is available via summary reports, which can then be accessed in excel.

The World Bank offers some statistics and details on privatisation transactions in excess of $1million within developing countries. The searchable database is for 2000-2007, but there is also a link to an Excel spreadsheet for the period 1988-1999. Apart from summary statistics on deal value etc., this resource provides transaction-level information (name of the company, sector, year and value of the deal) for developing and emerging economies. There is also a link for this and other World Bank data (e.g. infrastructure, Doing Business) to be mapped on a global scale – unfortunately these google-map based charts do not use standard colouring-in of countries but labels instead, which means they’re not that helpful (plus: they cannot be exported). However, I imagine the new World Bank data mapper will supersede this tool very soon.

Labour Regulation data: Andrei Shleifer‘s website provides links to a number of datasets he has compiled and used with various co-authors. This includes ‘Private Credit in 129 Countries’ (JFE 2007, with S. Djankov and C. McLiesh), with data from 1978-2002 and data on the ‘unofficial economy’ (primarily cross-section data).

Follow me on Twitter @MEDevEcon to get updates

Macro Stability, Business Cycles, Banking, Finance and Financial Crises

For Public Finance see section on Social Security, Taxes and the State.

The IADB website hosts the data used in the work on trade intensity and business cycles by César Calderón, Alberto Chong and Ernesto Stein (2006, JIE). From the abstract: “Using annual information for 147 countries for the period 1960-99 we find that the impact of trade intensity on business cycle correlation among developing countries is positive and significant, but substantially smaller than that among industrial countries. Our findings suggest that differences in the responsiveness of cycle synchronization to trade integration between industrial and developing countries are explained by differences in the patterns of specialization and bilateral trade.”

A New Database on Financial Development and Structure (1960-2007), produced by Thorsten Beck, Asli Demirguc-Kunt and Ross Levine, is available on the World Bank website . This is the updated version (April 2010) and provides indicators of financial development and structure (in total 22 variables) across countries (211 countries listed, but there are of course missing observations) and over time.

Systemic Banking Crises: A New Database (1970-2007) is presented by Luc Laeven and Fabian Valencia in their IMF working paper No. 08/224. This paper presents a new database on the timing of systemic banking crises and policy responses to resolve them. The database covers the universe of systemic banking crises for the period 1970-2007, with detailed data on crisis containment and resolution policies for 42 crisis episodes, and also includes data on the timing of currency crises and sovereign debt crises. The database extends and builds on the Caprio, Klingebiel, Laeven, and Noguera (2005) banking crisis database, and is the most complete and detailed database on banking crises to date.

The personal website of Luc Laeven (Deputy Division Chief in the Research Department of the International Monetary Fundand Full Professor of Finance at CentER, Tilburg University) carries a number of interesting datasets for cross-country analysis, including the ‘Banking Crisis Database (2010)’, Crisis resolution database and Deposit Insurance Database, together with some papers he’s written describing and analysing the data. [Thanks to my buddy Andrea Presbitero at Università Politecnica delle Marche for the pointer]

On his websiteThorsten Beck at Tilburg University provides cross-section data (2003) on access and use of banking services across 99 developing and developed countries: number of branches, ATMs, loans, deposits. This is from joint work with A.Demirgüç-Kunt and M. Martinez Peria. Thorsten also has panel data on financial development (private credit) for up to 72 countries, from work with A. Demirgüç-Kunt and R. Levine.

The World Bank (Cihák, Demirgüç-Kunt, Feyen & Levine) provides the Global Financial Development Database (GFDD) which covers 1960-2010 for 203 countries. “The Global Financial Development Database is based on this 4×2 framework. It builds on, updates, and extends previous efforts, in particular the data collected for the “Database on Financial Development and Structure”, the Financial Access Survey, the Global Findex and Financial Soundness Indicators. The database includes measures of (a) size of financial institutions and markets (financial depth), (b) degree to which individuals can and do use financial services (access), (c) efficiency of financial intermediaries and markets in intermediating resources and facilitating financial transactions (efficiency), and (d) stability of financial institutions and markets (stability). The dataset can be used to document cross-country differences and time series trends.” Data can be downloaded in an Excel file and there is additional documentation.
Scott Baker and Nick Bloom, both at Stanford University, provide all the quarterly stock market returns and disaster data (in Stata) for 60 countries (including a considerable number of emerging economies) over the 1970-2010 time period used in their uncertainty and growth paper. They also provide the do-files to replicate all empirical results in the paper.
The companion website to Carmen Reinhart and Ken Rogoff‘s This time is different: Eight centuries of financial follies provides access to all the great data they compiled for their research. Topics covered include very long time series for debt/GDP ratio, inflation, exchange rate regimes and many more.

The World Bank provides (in collaboration with the IMF) the Quarterly External Debt Statistics – these come in two variants, the general (GDDS) and special (SDDS) dissemination. Currently, sixty countries have agreed to participate in the SDDS/QEDS database and forty-two Low-Income Countries (LICs) to provide data to the GDDS/QEDS database. Data begins in 1998.

The Joint External Debt Hub (JEDH – pronounced Jedi?) — jointly developed by the Bank for International Settlements (BIS), the International Monetary Fund (IMF), the Organization for Economic Cooperation and Development (OECD) and the World Bank (WB) — brings together external debt data and selected foreign assets from international creditor/market and national debtor sources. The JEDH replaces the (above) Joint BIS-IMF-OECD-WB Statistics on External Debt and brings together 34 data series from the above institutions. Coverage starts in 1990 and can be up to quarterly, for all countries in the world, although this depends on the variable (e.g. ‘International Reserves’ seemed to have a very good [from 1990] and quarterly coverage but other variables start later, are less frequent and less broad in country-terms). [This dataset was featured in an article by Sarah Bracking in the Google magazine thinkquarterly]

Christoph Trebesch at Munich University (LMU) provides data on debt restructuring episodes from 1950-2010 from a research project with Udaibir Das and Michael Papaioannou (IMF). The data can be downloaded in Excel format and provides information on the timing (month/year) of the restructuring, amount, etc. Over 600 episodes are recorded. An accompanying IMF working paper provides details on concepts and reviews the existing literature.
The World Bank‘s new International Debt Statistics are now available as part of the institution’s Open Data Initiative: “high frequency, quarterly, external and public debt data for both high-income and developing countries collected and compiled by the World Bank in partnership with the International Monetary Fund. Now users can not only examine trends in debt flows within the developing world, but also take a closer look at the external debt of high-income countries, and develop a more complete understanding of global financial flows”. Picking the standard measure of external debt burden (in % of GNI) I found data from 1970 to 2011 for around 140 countries (unbalanced). A large number of more differentiated data are available, with varying time series and cross-section coverage.

The Inter-American Development Bank provides data on Bank Ownership and Bank Performance covering 119 countries over the 1995-2002 period. The methodology used to generate the data is described in Micco, Panizza and Yanez (2004) “Bank Ownesrhip and Performance,” IDB-RES working paper No. 518.

The Chinn-Ito index (KAOPEN) is an index measuring a country’s degree of capital account openness. The index was initially introduced in Chinn and Ito (Journal of Development Economics, 2006). KAOPEN is based on the binary dummy variables that codify the tabulation of restrictions on cross-border financial transactions reported in the IMF’s Annual Report on Exchange Arrangements and Exchange Restrictions (AREAER). The dataset is available in the Excel or STATA format. The data file contains the Chinn and Ito index series for the time period of 1970-2007 for 182 countries.  [Thanks to Malgorzata Sulimierska at Sussex University for the link]

Huang Yongfu at Cambridge’s Land Economy department has some links to datasets on Financial Developments as well as other resources on the topic (researchers in the area, papers).

The IMF has a new database reporting the access to basic consumer financial services worldwide. At present this data covers 138 economies, nominally for the period 1998-2009, although most countries only have data from 2004 onwards. Annual information covers the reported use of banking services and access to banks’ physical outlets. The data for all countries and time periods cam be downloaded as an Excel file. [via economicslinks]

James R. Barth, Gerard Caprio, Jr. and Ross Levine (Auburn, Williams, UC Berkeley) have compiled data on Bank Regulation and Supervision in 180 Countries from 1999 to 2011. “[T]he measures are based upon responses to hundreds of questions, including information on permissible bank activities, capital requirements,  the powers of official supervisory agencies, information disclosure requirements, external governance mechanisms, deposit insurance,
barriers to entry, and loan provisioning. The dataset also provides information on the organization of regulatory agencies and the size, structure, and performance of banking systems. Since the underlying surveys are large and complex, we construct summary indices of key bank regulatory and supervisory policies to facilitate  cross-country comparisons and analyses of changes in banking policies over time.” Me-thinks: Was there no banking regulation before 1999?
A team of researchers at the IMF and World Bank (Asli Demirgüç-Kunt, Edward Kane and Luc Laeven) have updated some previous database on deposit insurance at private banks: they asked “national officials for information on capital requirements, ownership and governance, activity restrictions, bank supervision, as well as on the specifics of their deposit insurance arrangements.” In addition to the data in excel format the link provides access to a working paper which discusses construction and provides some descriptives. Coverage is for over 100 countries in the years 2003, 2010 and 2013. [h/t Andrea Presbitero]
Stijn Claessens and Neeltje van Horen from De Nederlandsche Bank have compiled a database with ownership information for 5,324 banks active in 137 countries over the period 1995-2009 (year of establishment can be earlier and is recorded; Banca Monte dei Paschi di Siena is the oldest in this database, established 1472).  “It includes for each bank its year of establishment, its year of inactivity, its ownership (foreign or domestic) and if foreign owned the home country of the majority shareholder.” Downloadable as an Excel file. Sadly no information about state-share of ownership (e.g. recent nationalisation following the global financial crisis). For detailed description of the database, see Claessens and Van Horen, 2013, “Foreign banks: Trends and impact”, Journal of Money, Credit and Banking, forthcoming. [Thanks to my buddy Andrea Presbitero at Università Politecnica delle Marche for the pointer]
Sofronis Clerides, Manthos D. Delis and Sotirios Kokas from the Department of Economics, University of Cyprus (Delis is at the University of Surrey) have created a dataset for the estimated degree of competition in the banking sectors of 148 countries over the period 1997-2010. The dataset is contained in tables at the end of their working paper, so a bit of copy and pasting will do the job. You’ll find some relevant work on banking regulation and competition (including a 2012 JDE paper) on Delis’ personal website.
Robert Barro at Harvard University provides a number of datasets on macroeconomic disasters related to his own research work on his website. This includes GDP and consumption time series for developing and developed economies from the late 19th century onward. The data can be downloaded in Excel format and related working papers are provided in a separate section of the website.
The Global Financial Inclusion (Global Findex) Database is a project funded by the Bill & Melinda Gates Foundation to measure how people in 148 countries — including the poor, women, and rural residents — save, borrow, make payments and manage risk. The dataset has been compiled by Leora Klapper and Asli Demirguc-Kunt of the World Bank and can be downloaded from the World Bank Open Data website (there are a total of 517 indicators for a max of 164 countries — at the moment this is for 2011 only).
The Bank for International Settlements (BIS) “has constructed long series on credit to the private non-financial sector for 40 economies, both advanced and emerging. Credit is provided by domestic banks, all other sectors of the economy and non-residents. The ‘private non-financial sector’ includes non-financial corporations (both private-owned and public-owned), households and non-profit institutions serving households as defined in the System of National Accounts 2008. In terms of financial instruments, credit covers loans and debt securities.” The data is quarterly from 1940 to 2012 (unbalanced panel) and can be downloaded in excel format alongside detailed documentation. [Thanks to my buddy Andrea Presbitero at Università Politecnica delle Marche for the pointer]

$$ The new IMF Financial Soundness Indicators provide information on the health of the entire sector of financial institutions, but also the counterpart corporate and household sectors, and of relevant markets. So far 64 countries have committed to participate, with the frequency of data left to the discretion of the countries. The database contains 12 core indicators, including variables like “Nonperforming loans to total gross loans” or “Return on Assets”, with the data (at present) provided in excel spreadsheets. Further new databases from the IMF include the Coordinated Direct Investment Survey (CDIS, from December 2010, dyadic data on inward and outward investment) and the Coordinated Portfolio Investment Survey (CPIS, covers equity securities, long- and short-term debt securities broken down by economy of residence of the issuer of the securities).

$$ Another IMF database are the High Frequency Government Statistics, which has annual, quarterly and (for some variables and countries) monthly data on the balance sheet. This is included in the International Financial Statistics.

Follow me on Twitter @MEDevEcon to get updates